Các cơ quan liên quan được giao chủ trì, phối hợp với các địa phương xây dựng Quy chế điều phối vật liệu liên vùng nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt cục bộ, với yêu cầu hoàn thành trong tháng 9/2026. Đây được xem là một trong những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cân đối nguồn cung đất, đá, cát và các loại vật liệu xây dựng (VLXD), nhất là tại những khu vực đang triển khai đồng thời nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn.

Thay vì chỉ xử lý từng trường hợp thiếu vật liệu cho từng dự án, cơ quan quản lý có thể từng bước xây dựng một hệ thống theo dõi tổng thể về nguồn tài nguyên, năng lực khai thác, nhu cầu và khả năng vận chuyển trên phạm vi liên vùng.
Theo Thông báo số 470/TB-VPCP ngày 11/9/2026 về kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với Hiệp hội Các nhà thầu xây dựng Việt Nam và một số doanh nghiệp xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và các địa phương tổng hợp, đánh giá nguồn cung VLXD.
Đáng chú ý, các cơ quan liên quan được yêu cầu xây dựng Quy chế điều phối vật liệu liên vùng nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt cục bộ, hoàn thành trong tháng 9/2026. Cùng với đó là nghiên cứu hoàn thiện cơ chế khai thác các mỏ khoáng sản nhóm III, nhóm IV làm VLXD thông thường.
Từ cân đối nguồn cung theo địa giới sang điều phối theo vùng
Thực tế, nguồn đất, đá, cát phục vụ xây dựng có tính chất đặc thù bởi phụ thuộc vào điều kiện địa chất, vị trí mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, chất lượng vật liệu, thủ tục cấp phép cũng như năng lực chế biến và vận chuyển. Vì vậy, nếu chỉ cân đối cung - cầu trong phạm vi địa giới hành chính, thị trường khó đạt được sự linh hoạt cần thiết. Một địa phương có thể thiếu vật liệu trong khi khu vực lân cận vẫn còn khả năng cung ứng; ngược lại, việc mở rộng khai thác tại một địa phương chưa chắc là phương án tối ưu nếu nguồn vật liệu từ khu vực khác có thể được vận chuyển với chi phí hợp lý.
Vấn đề càng rõ hơn tại các khu vực tập trung nhiều dự án giao thông, đô thị, công nghiệp và hạ tầng trọng điểm. Khi nhiều dự án triển khai đồng thời, nhu cầu đất, đá, cát có thể tăng đột biến trong một khoảng thời gian ngắn, tạo ra tình trạng thiếu hụt cục bộ dù tổng nguồn cung của cả vùng chưa hẳn thiếu.
Việc hình thành cơ chế điều phối liên vùng vì thế có thể được xem là bước chuyển từ quản lý nguồn cung theo từng địa phương sang quản lý theo chuỗi cung ứng và nhu cầu thực tế của thị trường. Theo hướng này, vật liệu không nhất thiết phải được khai thác và sử dụng trong cùng một địa phương mà có thể được phân bổ giữa các khu vực trên cơ sở nhu cầu, khả năng cung ứng, khoảng cách vận chuyển, chất lượng vật liệu và hiệu quả kinh tế.
Cần một cơ chế điều phối có dữ liệu làm nền tảng
Để Quy chế điều phối liên vùng thực sự phát huy hiệu quả, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở việc thiết lập cơ chế phối hợp giữa các địa phương mà trước hết phải hình thành được một bức tranh tương đối đầy đủ, thống nhất và cập nhật về nguồn cung - cầu VLXD. Mỗi khu vực cần xác định rõ các thông tin cơ bản như trữ lượng và khả năng khai thác, công suất được cấp phép, sản lượng thực tế, năng lực chế biến, chủng loại và chất lượng vật liệu, khả năng cung ứng theo từng thời kỳ, khoảng cách đến các công trình và năng lực vận chuyển.
Ở chiều ngược lại, nhu cầu cũng cần được xác định theo từng nhóm dự án, từng địa bàn và từng giai đoạn. Đặc biệt, cần nhận diện sớm những dự án có nhu cầu vật liệu lớn, tiến độ thi công đồng thời hoặc có yêu cầu đặc thù về chủng loại và chất lượng vật liệu.
Trên cơ sở dữ liệu cung - cầu này, cơ quan quản lý có thể xác định khu vực có nguy cơ thiếu hụt, khu vực có khả năng bổ sung nguồn cung và phương án vận chuyển giữa các địa phương. Đây là điều kiện quan trọng để cơ chế điều phối chuyển từ xử lý tình huống khi thị trường đã thiếu vật liệu sang chủ động dự báo và phân bổ nguồn cung trước khi phát sinh điểm nghẽn.
Điều phối phải gắn với năng lực vận chuyển
Một trong những yếu tố cần được tính đến khi xây dựng Quy chế là chi phí logistics. Nguồn vật liệu về mặt địa lý có thể dồi dào nhưng vẫn không thể trở thành nguồn cung hiệu quả nếu khoảng cách vận chuyển quá xa hoặc hạ tầng giao thông không đáp ứng được khối lượng vận chuyển lớn. Do đó, phương án điều phối không nên chỉ căn cứ vào sản lượng vật liệu còn khả năng khai thác mà cần tính đến cả năng lực vận chuyển và chi phí đưa vật liệu từ mỏ đến chân công trình.
Đối với các loại vật liệu có khối lượng lớn và giá trị trên một đơn vị sản phẩm tương đối thấp như đất, cát, đá, yếu tố vận chuyển có thể quyết định đáng kể đến giá thành cuối cùng. Một phương án điều phối hiệu quả vì vậy phải trả lời được đồng thời ba câu hỏi: nguồn vật liệu ở đâu, có thể cung ứng bao nhiêu và đưa đến công trình bằng phương thức nào với chi phí hợp lý. Điều này cũng đặt ra yêu cầu phối hợp giữa cơ quan quản lý tài nguyên, xây dựng, giao thông, tài chính và chính quyền địa phương trong quá trình tổ chức cung ứng.
Điều phối nguồn cung phải đi cùng minh bạch giá
Một điểm đáng chú ý khác trong chỉ đạo ngày 11/9 là yêu cầu đồng thời nâng chất lượng công bố giá VLXD. Bộ Xây dựng được giao tăng cường đôn đốc các địa phương công bố kịp thời giá vật liệu, nhân công, máy thi công, giá xây dựng và định mức xây dựng; trong khi UBND các tỉnh, thành phố phải khảo sát, công bố giá định kỳ, kịp thời và sát với thị trường, khắc phục tình trạng công bố chậm hoặc chưa phản ánh đầy đủ mặt bằng giá thực tế.
Yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh giá vật liệu biến động có thể tác động trực tiếp đến tổng mức đầu tư, dự toán, giá gói thầu và hiệu quả thực hiện dự án. Khi giá công bố không theo kịp thị trường, khoảng cách giữa giá tham chiếu và giá giao dịch thực tế có thể tạo thêm khó khăn cho cả chủ đầu tư và nhà thầu. Do đó, điều phối nguồn cung và minh bạch giá cần được xem là hai vấn đề có quan hệ chặt chẽ.
Điều phối tốt giúp xác định rõ nguồn vật liệu, khả năng cung ứng và phạm vi phục vụ; còn hệ thống giá sát thị trường tạo cơ sở để chủ đầu tư, nhà thầu và các đơn vị tư vấn tính toán chi phí, lựa chọn nguồn cung và tổ chức thi công hiệu quả hơn. Về lâu dài, dữ liệu về nguồn cung và dữ liệu về giá cũng cần được liên kết. Khi cơ quan quản lý có thể theo dõi đồng thời sản lượng, công suất khai thác, nhu cầu, giá tại mỏ, chi phí vận chuyển và giá vật liệu đến công trình, việc đánh giá biến động thị trường sẽ có cơ sở thực tế hơn.
Cần quy định rõ trách nhiệm khi xảy ra thiếu hụt cục bộ
Một nội dung quan trọng khác mà Quy chế điều phối cần làm rõ là trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương và chủ thể tham gia chuỗi cung ứng. Quy chế không nên chỉ dừng ở việc quy định cơ quan nào chủ trì, cơ quan nào phối hợp, mà cần xác định rõ cơ chế phát hiện và xử lý khi một khu vực có nguy cơ thiếu vật liệu.
Chẳng hạn, khi nhu cầu tăng nhanh hoặc một nguồn cung bị gián đoạn, cần có quy trình cập nhật thông tin, đánh giá mức độ thiếu hụt, xác định nguồn bổ sung từ địa phương lân cận và thống nhất phương án vận chuyển. Đối với các dự án trọng điểm, việc cảnh báo sớm cần được thực hiện ngay từ giai đoạn chuẩn bị và tổ chức thi công, thay vì chờ đến khi công trường thiếu vật liệu mới xử lý.
Cùng với đó, cần có cơ chế giám sát sản lượng khai thác, khối lượng cung ứng và tiến độ giao vật liệu, nhất là đối với những nguồn được xác định có vai trò quan trọng đối với các dự án hạ tầng lớn. Cách tiếp cận này cũng góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ, găm hàng hoặc lợi dụng khan hiếm cục bộ để tăng giá, đồng thời nâng cao tính minh bạch của thị trường.
BuilData



