Hội nghị tham vấn chính sách dự án Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng diễn ra ngày 9/9/2026 đánh dấu bước chuyển đáng chú ý khi định hướng quản lý thị trường bằng hệ thống dữ liệu vật liệu xây dựng liên thông thay vì điều phối riêng lẻ từng khâu.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu vật liệu xây dựng kết nối liên thông từ quy hoạch mỏ, năng lực chạy lò đến nhu cầu tiêu thụ thực tế tại các công trình là chìa khóa giúp cơ quan quản lý và doanh nghiệp chủ động trong bài toán điều phối nguồn hàng. Thay vì chỉ ban hành các văn bản điều chỉnh sau khi giá cả hay nguồn cung đã có biến động, việc chuyển hướng sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu giúp nhận diện sớm các điểm nghẽn của thị trường.
Kết nối dữ liệu toàn quốc giải quyết bài toán lệch pha cung cầu cục bộ

Luồng dữ liệu 3 cấp: từ dữ liệu mỏ và sản xuất, qua hệ thống dự báo cung-cầu của Bộ Xây dựng, đến ứng dụng thực tế cho nhà thầu, đại lý và chủ đầu tư
Theo kế hoạch triển khai, cơ quan quản lý đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026–2028 sẽ hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin toàn quốc liên thông, đồng bộ về khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như cát, đá, vật liệu san lấp. Nền tảng pháp lý này gộp chung với Nghị định 209/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/07/2026) đang tạo ra một khung khổ quản lý mới cho toàn ngành.
Sự cần thiết của một hệ thống dữ liệu thống nhất thể hiện rõ qua các đợt biến động nguồn cung vừa qua. Dữ liệu từ Bản tin tháng 8 do Trung tâm Thông tin và CSDL Xi măng (CIDC) xuất bản chỉ ra tình trạng phân bổ thiếu cân đối tại nhiều địa bàn.
Cụ thể, tại Quảng Ngãi, công suất khai thác cát xây dựng được cấp phép thực tế mới đáp ứng khoảng 36% nhu cầu dự báo cho các dự án trong năm 2026. Khi dữ liệu mỏ và nhu cầu chưa được kết nối liên thông giữa các tỉnh lân cận, các dự án hạ tầng rất dễ rơi vào thế bị động, chịu chi phí cước vận tải đường dài tăng cao hoặc nguy cơ chậm tiến độ do thiếu vật liệu san lấp.
Bên cạnh đó, bức tranh sản xuất và tiêu thụ xi măng tháng 7/2026 với sản lượng đạt 12,11 triệu tấn và tổng tiêu thụ đạt 11,30 triệu tấn (trong đó tiêu thụ nội địa đạt 8,17 triệu tấn) cho thấy sức mua thị trường đang phục hồi tích cực. Tuy nhiên, nếu thiếu công cụ theo dõi dòng chảy vật liệu từ nhà máy đến các trạm nghiền hay đại lý vùng, hiện tượng thừa hàng ở khu vực này nhưng lại sốt giá cục bộ ở khu vực khác vẫn có thể diễn ra.
Người mua và người bán được lợi gì khi thông tin nguồn cung được minh bạch?
Một hệ thống dữ liệu thị trường hoạt động hiệu quả không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước mà còn mang lại giá trị thương mại trực tiếp cho các chủ thể tham gia giao thương:
- Đối với nhà sản xuất và hệ thống đại lý: Việc nắm bắt chỉ số dự báo cung - cầu theo vùng giúp nhà máy điều chỉnh kế hoạch chạy lò, tối ưu công suất trạm nghiền và chủ động lượng trữ kho bãi. Các đại lý phân phối cũng có thêm cơ sở để tính toán vòng quay tồn kho, giảm bớt rủi ro chôn vốn hoặc ôm hàng sai nhịp thị trường.
- Đối với nhà thầu và đơn vị thi công: Khi các điểm nóng về hạ tầng giao thông chịu áp lực nguồn cung vật liệu, dữ liệu minh bạch về trữ lượng mỏ và cự ly vận chuyển giúp nhà thầu tính đúng chi phí giao hàng đến chân công trình, hạn chế tối đa nguy cơ bị ép giá hoặc đứt gãy nguồn cung giữa chừng.
Trước khi tiến tới dự thảo luật mới, các định hướng về quản lý khoáng sản, tiêu chuẩn vật liệu xanh và điều phối nguồn lực đã được cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn hành lang pháp lý nhằm hoàn thiện Nghị định quản lý vật liệu xây dựng phát triển bền vững. Việc từng bước chuyển từ cơ chế quản lý hành chính sang điều phối dựa trên dữ liệu thực tế đang giúp thị trường vận hành chủ động và dự báo tốt hơn.
Nguồn tham khảo: Chỉ thị 03-CT/TW - Ban Bí thư
Cem.Mart



