Thị trường bê tông đúc sẵn trên thế giới và tại Việt Nam được dự báo tiếp tục tăng trưởng trong thập kỷ tới, nhờ nhu cầu phát triển hạ tầng, đô thị hóa, xây dựng nhà ở và xu hướng rút ngắn thời gian thi công. Bên cạnh cơ hội mở rộng thị trường, sự phát triển của lĩnh vực này cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về kiểm soát vật liệu, tự động hóa sản xuất, tối ưu hóa sử dụng nguyên vật liệu và giảm phát thải trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
Bê tông đúc sẵn là các sản phẩm và cấu kiện bê tông được đúc, bảo dưỡng và hoàn thiện tại nhà máy hoặc cơ sở sản xuất trong điều kiện được kiểm soát trước khi vận chuyển đến công trường để lắp đặt. Nhóm sản phẩm này khá đa dạng, gồm cột, dầm, tường, sàn, mái, cầu thang, ống, tấm lát, cấu kiện cầu đường, các sản phẩm phục vụ thoát nước và nhiều cấu kiện khác cho xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng.
Khác với bê tông đổ tại chỗ, bê tông đúc sẵn chuyển một phần đáng kể hoạt động sản xuất từ công trường vào môi trường nhà máy. Các cấu kiện được sản xuất theo quy trình tiêu chuẩn, bảo dưỡng trong điều kiện được kiểm soát, sau đó vận chuyển và lắp đặt tại dự án. Mô hình này có thể góp phần rút ngắn thời gian thi công, giảm khối lượng công việc tại công trường và nâng cao tính ổn định của chất lượng sản phẩm.

Với xu hướng đô thị hóa, đầu tư hạ tầng và công nghiệp hóa hoạt động xây dựng, bê tông đúc sẵn có cơ sở để tiếp tục mở rộng thị trường trong thập kỷ tới.
Thị trường toàn cầu tiếp tục mở rộng
Các báo cáo thị trường gần đây đều cho thấy nhu cầu bê tông đúc sẵn toàn cầu duy trì xu hướng tăng trong giai đoạn tới, dù quy mô thị trường được các tổ chức nghiên cứu ước tính khác nhau do khác biệt về phạm vi sản phẩm và phương pháp tính toán.
Theo Market Research Future, thị trường bê tông đúc sẵn toàn cầu đạt khoảng 153,14 tỷ USD năm 2025 và được dự báo tăng lên khoảng 159,98 tỷ USD vào năm 2026, trước khi đạt 243,54 tỷ USD vào năm 2035, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 4,78% trong giai đoạn 2026-2035. Báo cáo xác định đầu tư vào cơ sở hạ tầng, thiếu hụt lao động tại công trường, nhu cầu rút ngắn thời gian xây dựng và xu hướng sử dụng các giải pháp xây dựng ngoài công trường là những yếu tố hỗ trợ thị trường.
Trong khi đó, IMARC Group ước tính thị trường bê tông đúc sẵn toàn cầu đạt 140 tỷ USD năm 2025 và có thể đạt 203,6 tỷ USD vào năm 2034, với CAGR 4,04% trong giai đoạn 2026-2034. Theo IMARC, đô thị hóa, phát triển hạ tầng, tiến bộ công nghệ, yêu cầu rút ngắn thời gian thi công và sự quan tâm ngày càng lớn tới tính bền vững là những động lực quan trọng của thị trường.
Việt Nam có nhiều dư địa phát triển
Tại Việt Nam, nhu cầu đối với bê tông đúc sẵn được hỗ trợ bởi quá trình đô thị hóa, phát triển hạ tầng giao thông, xây dựng nhà ở và các công trình công nghiệp, thương mại. Một báo cáo của IMARC Group ước tính thị trường bê tông đúc sẵn Việt Nam đạt khoảng 577,4 triệu USD năm 2025 và dự báo đạt khoảng 1,064 tỷ USD vào năm 2034, tương ứng CAGR 6,82% trong giai đoạn 2026-2034. Báo cáo cho rằng đô thị hóa, phát triển hạ tầng, việc sử dụng CAD/BIM (thiết kế hỗ trợ bằng máy tính/mô hình thông tin công trình), tự động hóa sản xuất và nhu cầu nâng cao hiệu quả xây dựng là những yếu tố hỗ trợ tăng trưởng.
Đây là triển vọng đáng chú ý trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục mở rộng đầu tư vào hạ tầng giao thông và đô thị. Theo Bộ Xây dựng, định hướng giai đoạn 2026-2030 bao gồm phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy đô thị hóa và đầu tư vào các tuyến cao tốc, đường sắt, cảng biển, sân bay và hạ tầng đô thị.
Các sản phẩm bê tông đúc sẵn có thể đáp ứng nhiều nhu cầu của thị trường Việt Nam, từ cấu kiện kết cấu cho nhà ở và công trình công nghiệp đến sản phẩm phục vụ giao thông, cấp thoát nước và hạ tầng đô thị. Đặc biệt, các dự án có quy mô lớn, yêu cầu tiến độ cao và khối lượng cấu kiện lặp lại là những lĩnh vực có điều kiện thuận lợi để áp dụng sản xuất đúc sẵn.
Ngoài ra, nhu cầu nhà ở và phát triển đô thị cũng tạo thêm dư địa cho các hệ thống xây dựng công nghiệp hóa. Kế hoạch hành động của Bộ Xây dựng giai đoạn 2026-2030 đặt trọng tâm vào phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị, nhà ở xã hội, đô thị thông minh, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ trong ngành xây dựng.
Cùng với sự phát triển của ngành, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật trong nước cũng tạo cơ sở cho việc kiểm soát chất lượng sản phẩm. Chẳng hạn, TCVN 9114:2019 quy định yêu cầu kỹ thuật và quy trình kiểm tra chấp nhận đối với sản phẩm bê tông cốt thép ứng lực trước căng trước đúc sẵn dùng để thi công lắp ghép trong các công trình dân dụng và công nghiệp. Tiêu chuẩn này hiện vẫn còn hiệu lực.
Kinh tế tuần hoàn mở thêm hướng đi
Bên cạnh giảm lượng clinker, ngành bê tông đúc sẵn còn có thể hưởng lợi từ các giải pháp kinh tế tuần hoàn. Môi trường nhà máy tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thu gom và kiểm soát vật liệu dư thừa so với công trường xây dựng phân tán.
Phế phẩm bê tông có thể được nghiên cứu để tái sử dụng hoặc nghiền làm vật liệu phù hợp cho những ứng dụng nhất định, trong khi nước sử dụng trong sản xuất và vệ sinh thiết bị cũng có thể được quản lý theo hướng tuần hoàn nếu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Một hướng khác là thiết kế cấu kiện với tuổi thọ dài, khả năng sửa chữa, thay thế hoặc tháo dỡ phù hợp. Khi công trình được thiết kế theo hướng có thể tháo lắp hoặc tái sử dụng một số cấu kiện, giá trị vật liệu có thể được duy trì lâu hơn trong vòng đời công trình. Tuy nhiên, các giải pháp này cần được đánh giá dựa trên yêu cầu kỹ thuật, an toàn, tiêu chuẩn áp dụng và hiệu quả kinh tế cụ thể thay vì chỉ dựa trên mục tiêu giảm phát thải.
BuilData



