Mức độ vênh giữa chỉ số giá công bố và chi phí thực tế giao dịch đang tạo áp lực trực tiếp lên đơn giá vật liệu xây dựng và hiệu quả thi công của các nhà thầu tại Quảng Ngãi.
Nhịp độ triển khai các công trình xây dựng tại Quảng Ngãi chịu tác động từ việc biến động đơn giá vật liệu xây dựng và khả năng đáp ứng nguồn cung tại chỗ. Báo cáo từ Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi ghi nhận chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,37% so với tháng 7/2026. Trong bối cảnh đó, kiến nghị của 20 doanh nghiệp xây dựng địa phương gửi đến Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh phản ánh thực trạng chênh lệch giữa giá công bố và giá giao dịch thực tế đối với nhiều nhóm vật liệu thông thường.
Sự lệch pha này đòi hỏi cách nhìn phân tách bạch giữa biến động giá niêm yết theo thời gian và độ vênh thương mại giữa các điều kiện giao hàng khác nhau.
Phân định ranh giới giữa mức chênh dẫn chiếu và đà tăng giá
Trong văn bản gửi cơ quan chức năng, các doanh nghiệp địa phương dẫn chiếu hai mức giá đối với sản phẩm xi măng PC40: giá công bố của Sở Xây dựng là 1,205 triệu đồng/tấn và giá phản ánh thực tế khoảng 1,6 triệu đồng/tấn. Chênh lệch giữa hai con số này là 395.000 đồng/tấn, tương đương khoảng 32,8%.
Tuy nhiên, con số 32,8% chỉ là phản ánh sự chênh lệch giữa hai mức giá được doanh nghiệp dẫn chiếu tại một thời điểm khảo sát cụ thể, không phải là tỷ lệ tăng giá của xi măng theo thời gian. Do chưa xác nhận được rõ điều kiện giao hàng (giá tại chân kho nhà máy hay giá giao đến tận chân công trình) cho nên không có căn cứ để kết luận mức chênh này xuất phát từ chi phí logistics hay biên lợi nhuận của khâu đại lý trung gian.
Đối chiếu với dữ liệu theo dõi chính thức từ thị trường, diễn biến giá xi măng PCB40 bao 50 kg niêm yết ổn định qua các kỳ báo cáo:
- Tháng 3/2026: 87.900 đồng/bao 50 kg.
- Tháng 7/2026: 88.900 đồng/bao 50 kg (tăng 1.000 đồng/bao).
- Tháng 8/2026: 88.900 đồng/bao 50 kg (duy trì ổn định).
Như vậy, tính từ tháng 3 đến tháng 8/2026, giá PCB40 theo công bố chính thức chỉ điều chỉnh tăng 1.000 đồng/bao, tương đương mức điều chỉnh nhẹ 1,14%. Nếu quy đổi số học đơn thuần từ đơn giá bao sang đơn vị tấn (88.900 đồng/bao × 20 bao/tấn), kết quả đạt 1,778 triệu đồng/tấn. Tuy nhiên, đây chỉ là phép quy đổi đại số, không thể dùng để so sánh trực tiếp với mức giá 1,205 triệu hay 1,6 triệu đồng/tấn của dòng PC40, bởi hai chủng loại này khác biệt hoàn toàn về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy cách đóng gói và điều kiện thương mại.
Điểm nghẽn nguồn cung cát đá và áp lực lên tổng chi phí công trình
Khác với mặt hàng xi măng vốn đảm bảo đầy đủ năng lực sản xuất và nguồn cung liên vùng, các nhóm vật liệu khai thác tự nhiên tại Quảng Ngãi đang gặp áp lực lớn ở khâu nguồn cung. Dữ liệu khảo sát ghi nhận công suất khai thác cát xây dựng được cấp phép thực tế chỉ đáp ứng khoảng 36% nhu cầu dự báo của các dự án trên địa bàn tỉnh trong năm 2026.

Giá xi măng PCB40 gần như đứng yên qua các kỳ báo cáo (+1,14% từ tháng 3 đến tháng 8), trong khi nguồn cung cát xây dựng tại Quảng Ngãi chỉ đáp ứng khoảng 36% nhu cầu
Nhiều mỏ khoáng sản trên địa bàn đã chạm trần trữ lượng hoặc dừng vận hành theo quy định:
- Mỏ An Hội: Phản ánh đã hết sản lượng khai thác trong năm.
- Mỏ Vạn Lý: Đã hoàn tất thủ tục đóng cửa mỏ.
- Mỏ Hòn Gai: Dừng hoạt động khai thác từ tháng 9/2026.
Tình trạng khan hiếm nguồn cung cát đá khiến chi phí mua vật liệu thô tại mỏ gia tăng. Tại mỏ Núi Dò, giá đất đắp công bố 33.180 đồng/m³ trong khi giá thực tế phản ánh khoảng 42.000 đồng/m³ (chênh 26%). Đá dăm 1x2 tại mỏ Phước Hòa công bố 245.454 đồng/m³ nhưng giá giao dịch ghi nhận tới 460.000 đồng/m³ (chênh 88%). Tại mỏ Thọ Bắc, cấp phối đá dăm Dmax=25 mm có giá công bố 145.454 đồng/m³ và giá phản ánh thực tế 236.364 đồng/m³ (chênh 62,5%).
Sự thiếu hụt cát đá xây dựng làm gia tăng áp lực chi phí tổng thể của công trình. Dù vậy, dữ liệu thị trường khẳng định Quảng Ngãi không thiếu xi măng, và tình trạng khan hiếm cát đá không phải là nguyên nhân trực tiếp làm thay đổi giá bán xi măng trên địa bàn.
Giải pháp minh bạch thông tin và tối ưu quản lý hợp đồng
Để tháo gỡ khó khăn cho các nhà thầu và đảm bảo tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, việc xây dựng cơ chế cập nhật chỉ số giá sát với biến động thực tế là yêu cầu cấp thiết. Khi dữ liệu vật liệu được kết nối minh bạch giữa cơ quan quản lý, chủ đầu tư và doanh nghiệp, rủi ro chênh lệch giá trong các hợp đồng trọn gói sẽ được giảm thiểu.
Việc theo dõi sát sao các bản tin thị trường hàng tháng của CIDC sẽ giúp các đơn vị thi công chủ động tính toán cự ly logistics, phân định rõ dự toán vật liệu theo từng thời điểm để duy trì nhịp độ thi công ổn định tại công trường.
Nguồn tham khảo: Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Quảng Ngãi.
Cem.Mart



