Hoạt động thi công 3 dự án cao tốc phía Nam trọng điểm đang ghi nhận mức chênh lệch nguồn cung xấp xỉ 3,862 triệu m³ đá xây dựng và 2,770 triệu m³ cát san lấp. Việc rà soát chi tiết quy mô thiếu hụt tại từng tuyến công trình mở ra yêu cầu cấp thiết về cơ chế điều phối vật liệu liên tỉnh nhằm bảo đảm tiến độ xây lắp.
Báo cáo kỹ thuật về hạ tầng giao thông vùng trọng điểm chỉ ra rằng, danh mục 3 dự án cao tốc phía Nam đang chịu áp lực lớn nhất về nguồn vật liệu đắp nền và đá móng bao gồm tuyến Mỹ An – Cao Lãnh, Cao Lãnh – An Hữu (thành phần 1) và dự án mở rộng TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận.
Mức độ thiếu hụt mỏ vật liệu tại từng tuyến công trình
Rà soát chi tiết tại 4 công trình hạ tầng trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ cho thấy sự khác biệt rõ rệt về khả năng tự cân đối vật liệu. Ngoại trừ dự án thành phần 2 Cao Lãnh – An Hữu cơ bản bảo đảm nguồn cung, 3 công trình còn lại đều ghi nhận khoảng chênh lệch khối lượng lớn so với tiến độ thi công thực tế:
- Tuyến Cao Lãnh – An Hữu (thành phần 1): Ghi nhận mức thiếu hụt khoảng 268.000 m³ đá xây dựng.
- Tuyến Mỹ An – Cao Lãnh: Còn thiếu khoảng 874.000 m³ đá xây dựng phục vụ thi công kết cấu móng.
- Dự án mở rộng TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận: Đứng trước áp lực nguồn cung lớn nhất khi thiếu khoảng 2,720 triệu m³ đá xây dựng và 2,770 triệu m³ cát san lấp.
Tổng hợp tại 3 công trình xác định khối lượng cần bổ sung đạt 3,862 triệu m³ đá và 2,770 triệu m³ cát. Sự khan hiếm cục bộ này ảnh hưởng trực tiếp đến biên chi phí xây lắp, trong bối cảnh mặt bằng giá vật liệu và cước vận chuyển đường thủy tại khu vực phía Nam có nhiều biến động.

Thiếu hụt gần 3,862 triệu m³ đá và 2,770 triệu m³ cát tại 3 dự án cao tốc phía Nam, đòi hỏi cơ chế điều phối vật liệu liên tỉnh. (Nguồn ảnh: Tạp chí Nhà Đầu Tư)
Tương quan trữ lượng mỏ địa phương và năng lực huy động thực tế
Hồ sơ quản lý khoáng sản tại 3 địa bàn trọng điểm gồm TP.HCM, Tây Ninh và Đồng Tháp ghi nhận 89 giấy phép khai thác và xác nhận đăng ký còn hiệu lực. Tổng trữ lượng được cấp phép đạt khoảng 444,93 triệu m³, trong đó trữ lượng còn lại theo sổ sách đạt 261,17 triệu m³ (tương đương 58,7%).
Tuy nhiên, trong quản trị nguồn cung hạ tầng, việc phân định giữa trữ lượng địa chất trên hồ sơ và khả năng đưa hàng ra công trường đòi hỏi xem xét nhiều biến số vận hành:
- Ranh giới giữa trữ lượng và công suất: Con số 261,17 triệu m³ đại diện cho tổng tài nguyên còn lại trong lòng đất, không đồng nghĩa với khối lượng có thể giải ngân hoặc khai thác thương mại ngay lập tức cho các công trình.
- Yếu tố kỹ thuật và vận chuyển: Giới hạn công suất khai thác theo năm, chất lượng khoáng sản từng tầng mỏ, thủ tục môi trường và khoảng cách cước vận tải là những rào cản quyết định tiến độ giao hàng thực tế.
- Phạm vi thiếu hụt định danh: Khối lượng 3,862 triệu m³ đá và 2,770 triệu m³ cát là bài toán riêng của 3 công trình được rà soát, không đại diện cho tổng cầu vật liệu của toàn bộ thị trường xây dựng phía Nam.
Việc giải ngân dòng vốn đầu tư công tại các tỉnh phía Nam vì vậy phụ thuộc chặt chẽ vào tốc độ tháo gỡ điểm nghẽn tại từng mỏ cung cấp.
Phương án điều phối liên vùng và tiến độ hỗ trợ nguồn hàng
Để giải quyết bài toán mỏ đắp cho các dự án cao tốc, phương án phối hợp cung ứng liên tỉnh đang được các địa phương tích cực triển khai. Theo phương án rà soát, TP.HCM dự kiến hỗ trợ cung cấp khoảng 3,862 triệu m³ đá xây dựng. Đối với nguồn cát san lấp, tỉnh Đồng Tháp thống nhất phương án hỗ trợ khoảng 1,5 triệu m³ cho dự án TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận, trong khi tỉnh Vĩnh Long tiếp tục rà soát các mỏ trên địa bàn để cân đối phần khối lượng còn lại.
Các con số hỗ trợ từ TP.HCM và Đồng Tháp hiện đang nằm ở bước thống nhất phương án phối hợp cung ứng, chưa phải khối lượng vật liệu đã thực tế giao đến chân công trường.
Bộ số liệu thiếu hụt cụ thể tại từng mỏ vật liệu giúp làm rõ bức tranh vận hành thực địa, có sự phân định rõ ràng với danh mục 29 dự án cao tốc quy hoạch cho giai đoạn 2026–2030 hay chỉ số tiến độ giải ngân tài chính chung. Việc chủ động điều phối mỏ vật liệu liên vùng sẽ quyết định điểm rơi sản lượng tiêu thụ cát, đá và xi măng tại các công trường hạ tầng phía Nam trong các quý tiếp theo.
Nguồn tham khảo: Thanh tra Chính phủ, Tạp chí Nhà Đầu Tư.
Cem.Mart



