Nguồn vốn hơn 255.000 tỷ đồng được bố trí cho các dự án giao thông trọng điểm năm 2026 mới đạt tỷ lệ giải ngân 38% tính đến hết tháng 8, phản ánh sự phân hóa rõ rệt về tiến độ thực hiện giữa các công trình.
Bức tranh triển khai các dự án giao thông trọng điểm thời gian qua đang ghi nhận sự lệch nhịp đáng chú ý về tốc độ giải ngân dòng vốn. Mặc dù tổng kế hoạch vốn ngân sách nhà nước được phân bổ cho nhóm công trình hạ tầng quy mô lớn này trong năm 2026 đạt quy mô lên tới hơn 255.000 tỷ đồng, nhưng tốc độ hấp thụ vốn thực tế lại chưa đạt kỳ vọng. Giá trị giải ngân lũy kế tính đến hết tháng 8/2026 mới chỉ chạm mốc 95.440 tỷ đồng, tương đương khoảng 38% kế hoạch đề ra. Tỷ lệ này khi đặt trong bức tranh chung của nền kinh tế cho thấy sự chậm chân rõ rệt, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng giải ngân vốn đầu tư công chung trên toàn quốc (đạt gần 50% cùng thời điểm).
Sự phân hóa tiến độ giữa các nhóm công trình quy mô lớn
Số liệu đối chiếu chi tiết từ báo cáo cho thấy sự chênh lệch lớn về tốc độ thực hiện giữa các dự án. Nhiều công trình hạ tầng quy mô lớn có tỷ lệ giải ngân dưới 30%, bao gồm Vành đai 3 TP.HCM, cao tốc TP.HCM – Mộc Bài, Cần Thơ – Hậu Giang, Hậu Giang – Cà Mau và Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột.
Đáng chú ý, có 12 dự án giao thông trọng điểm đạt tỷ lệ giải ngân dưới 5%, với tổng quy mô vốn lên tới trên 93.000 tỷ đồng. Phân tích theo bước triển khai:
- Nhóm 6 dự án chuẩn bị đầu tư: Đang ở giai đoạn hoàn thiện thủ tục pháp lý, thiết kế kỹ thuật hoặc giải phóng mặt bằng độc lập (bao gồm dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, 2 tuyến đường sắt đô thị Hà Nội).
- Nhóm 6 dự án đang thực hiện đầu tư: Đã khởi công hoặc đang thi công nhưng tiến độ giải ngân còn chậm (như Vành đai 4 Vùng Thủ đô đoạn qua Hưng Yên, Vành đai 3 TP.HCM đoạn qua Bình Dương cũ, cao tốc Tân Phú – Bảo Lộc, Bảo Lộc – Liên Khương, TP.HCM – Chơn Thành). Trong đó, có 3 dự án đã triển khai thực địa nhưng chưa phát sinh giải ngân.
Cần lưu ý rằng việc 6 dự án có tỷ lệ giải ngân dưới 5% nằm ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư là diễn biến phù hợp với chu kỳ thủ tục, không đồng nghĩa với việc vốn bị đóng băng hay tắc nghẽn thi công. Việc chuẩn bị kỹ hồ sơ và hạ tầng tái định cư là điều kiện bắt buộc trước khi bước sang giai đoạn tiêu thụ vật liệu quy mô lớn.

Trong khi tỷ lệ giải ngân bình quân nhóm dự án giao thông trọng điểm đạt 38%, nhiều công trình vẫn đứng gần vạch xuất phát với tỷ lệ dưới 5%, thấp hơn hẳn mức chung toàn quốc gần 50%
Cơ chế điều chuyển vốn và yêu cầu kiểm soát nguồn vật liệu
Trước thực trạng giải ngân phân hóa, cơ quan quản lý đã chỉ đạo các bộ ngành liên quan kiên quyết thực hiện cơ chế điều chuyển vốn. Nguồn vốn từ các dự án chậm tiến độ, không đáp ứng kế hoạch sẽ được điều chỉnh sang các dự án có năng lực hấp thụ vốn tốt hơn, đồng thời sẵn sàng tạm ứng ngân sách cho các địa phương triển khai hiệu quả nhưng đang thiếu hụt nguồn lực.
Bên cạnh bài toán thủ tục, các đánh giá chuyên môn cũng chỉ rõ tình trạng thiếu hụt vật liệu xây dựng là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm chậm tiến độ thi công. Để tháo gỡ điểm nghẽn này, các bộ ngành chức năng liên quan được giao phối hợp rà soát trữ lượng thực tế tại các mỏ khoáng sản, nghiên cứu giải pháp sử dụng vật liệu nạo vét và xây dựng cơ chế điều phối vật liệu liên ngành, liên vùng.
Sự chỉ đạo tập trung này bổ sung một góc nhìn quan trọng cho thị trường vật liệu. Trước đó, dữ liệu CIDC ghi nhận sản lượng tiêu thụ nội địa tháng 8/2026 đạt 7,627 triệu tấn (tăng 33% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, nhịp độ thi công thực tế tại từng tuyến công trình mới là yếu tố quyết định thời điểm phát sinh các đơn hàng xi măng giao về chân công trường.
Tối ưu mối quan hệ giữa đà giải ngân vốn và sức cầu vật liệu thực tế
Trong quản trị kinh doanh vật liệu xây dựng, việc đánh giá tác động của dòng vốn đầu tư công tới sức tiêu thụ thị trường đòi hỏi sự phân tách rạch ròi giữa số liệu kế toán và nhịp độ thi công thực tế tại công trường.
Thứ nhất, tỷ lệ giải ngân đạt 38% thuần túy đo lường giá trị thanh toán tài chính đã hoàn tất thủ tục, hoàn toàn không đồng nghĩa với việc thị trường mới chỉ tiêu thụ 38% khối lượng vật liệu. Do đặc thù thủ tục nghiệm thu, dòng tiền thanh toán luôn có độ trễ nhất định so với khối lượng vật liệu thực tế đã được đưa vào kết cấu công trình.
Thứ hai, biến động sản lượng tiêu thụ theo tháng chịu tác động lớn từ yếu tố thời tiết và mùa vụ. Mức giảm 7% sản lượng tiêu thụ xi măng nội địa trong tháng 8 so với tháng 7 chủ yếu do ảnh hưởng của mùa mưa bão làm gián đoạn thi công, thay vì là hệ quả trực tiếp từ tiến độ giải ngân của nhóm dự án giao thông.
Thứ ba, việc điều chuyển vốn giữa các dự án không lập tức kích hoạt sức cầu vật liệu mới. Dòng vốn được bổ sung chỉ thực sự chuyển hóa thành đơn hàng xi măng, cát, đá khi dự án tiếp nhận hoàn tất toàn bộ thủ tục pháp lý và chính thức bước vào giai đoạn thi công cao điểm.
Việc đánh giá sát tiến độ thực thi tại từng dự án hạ trọng điểm sẽ giúp các nhà sản xuất và hệ thống phân phối chủ động xây dựng phương án logistics, điều tiết nguồn hàng chính xác đến các địa bàn đang có nhịp độ thi công thực tế cao nhất.
Nguồn tham khảo: Bộ tài chính, Cuộc họp Chính phủ ngày 22/09/2026
Cem.Mart



