Chi phí xi măng vẫn là điểm nghẽn lớn trong năm 2026: có doanh nghiệp ghi nhận doanh thu quý II tăng hơn 33%, nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm gần 44% vì giá vốn và chi phí bán hàng tăng nhanh hơn. Điều này cho thấy thị trường tiêu thụ tốt hơn chưa đồng nghĩa áp lực tăng giá đã biến mất.
Chi phí xi măng đang trở thành yếu tố cần theo dõi song song với sản lượng tiêu thụ. Báo cáo tài chính quý II/2026 của Công ty CP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh cho thấy doanh thu thuần tăng 33,41% so với cùng kỳ nhưng giá vốn tăng 39,7%, khiến lợi nhuận sau thuế giảm 43,79%, còn 6,68 tỷ đồng.
Con số này đáng chú ý trong bối cảnh thị trường chung đang phục hồi. Theo báo cáo 6 tháng, tiêu thụ xi măng và clinker nửa đầu năm đạt 60,98 triệu tấn, tăng 15,7%; riêng tiêu thụ nội địa tăng 16,1%.
Bán được nhiều hơn nhưng chưa chắc lãi nhiều hơn
Điểm đáng chú ý nằm ở khoảng cách giữa tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng chi phí.
Tại Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh, ngoài giá vốn tăng nhanh hơn doanh thu, chi phí bán hàng quý II còn tăng tới 129,72%. Lợi nhuận gộp vì vậy giảm 22,79% so với cùng kỳ.
Đây không phải tín hiệu cho thấy toàn bộ doanh nghiệp xi măng đều có cùng diễn biến, nhưng nó minh họa khá rõ một vấn đề của thị trường hiện nay: phục hồi về lượng chưa chắc đồng nghĩa phục hồi về hiệu quả.
Trước đó, áp lực chi phí đã xuất hiện rõ từ quý I khi năng lượng, logistics và nguyên nhiên liệu tạo sức ép lên giá thành sản xuất. Khả năng chuyển toàn bộ phần chi phí tăng thêm sang giá bán cũng bị hạn chế bởi cạnh tranh cao giữa các nhà sản xuất.
Trong tháng 3 và tháng 5, nhiều doanh nghiệp đã phải điều chỉnh giá xi măng để bù một phần chi phí. Riêng tháng 5, mức tăng phổ biến tại khu vực phía Nam khoảng 50.000 đồng/tấn đối với nhiều sản phẩm xi măng bao và xi măng rời.

Vì sao đại lý và người mua nên quan tâm?
Với đại lý, dữ liệu này cho thấy không nên chỉ nhìn vào việc thị trường tiêu thụ tăng rồi kỳ vọng giá xi măng sẽ nhanh chóng ổn định hoặc giảm. Khi nhà máy vẫn chịu áp lực về nhiên liệu, điện, vận chuyển và chi phí bán hàng, dư địa giảm giá đầu nguồn có thể bị hạn chế.
Người mua cũng cần phân biệt giá niêm yết của nhà sản xuất với giá thực tế tại đại lý. Giá cuối cùng còn phụ thuộc khu vực giao hàng, sản lượng mua, thương hiệu, chủng loại, vận chuyển và chính sách chiết khấu.
Một hướng mà nhiều nhà máy đang áp dụng là giảm phụ thuộc vào đầu vào truyền thống. VICEM Hoàng Mai cho biết trong 7 tháng đầu năm đã đạt tỷ lệ nhiệt từ nhiên liệu thay thế 36,58%, đồng thời hệ thống tận dụng nhiệt khí thải phát điện đạt công suất trung bình khoảng 5,8 MW. Đây là ví dụ điển hình cho thấy kiểm soát chi phí đang dần chuyển từ việc tăng giá bán sang tối ưu hóa chính quá trình vận hành, nơi doanh nghiệp có thể xem thêm hiệu quả sản xuất thực tế từ các mô hình chuyển đổi này.
Điểm mới cần theo dõi trong nửa cuối năm vì vậy không chỉ là xi măng bán được bao nhiêu, mà còn là doanh nghiệp giữ lại được bao nhiêu lợi nhuận sau khi chi trả chi phí. Nếu tiêu thụ tiếp tục tăng nhưng giá vốn vẫn tăng nhanh, áp lực điều chỉnh giá hoặc cắt giảm chiết khấu tại một số thị trường vẫn có thể xuất hiện.
Tóm lại, nhu cầu xi măng đang phục hồi nhưng chi phí xi măng vẫn là sức ép lớn; với đại lý và người mua, diễn biến giá trong nửa cuối năm sẽ phụ thuộc không chỉ vào lượng cầu mà còn vào khả năng kiểm soát giá vốn của từng nhà sản xuất.
Cem.Mart



