Kết quả rà soát từ các Ban quản lý dự án tại Đà Nẵng ghi nhận tổng nhu cầu vật liệu xây dựng đạt khoảng 15,94 triệu m³, trong đó lượng cần bổ sung trong quý IV/2026 và năm 2027 khoảng 8,94 triệu m³ nhằm phục vụ các dự án hạ tầng trọng điểm.
Trong kế hoạch chuẩn bị nguồn lực phát triển hạ tầng giai đoạn 2026–2030, chỉ số vật liệu xây dựng phục vụ thi công tại ba Ban Quản lý dự án lớn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng được xác định ở mức tổng nhu cầu 15,94 triệu m³. Để bảo đảm tiến độ các công trình công lập và dự án phát triển kinh tế - xã hội, chính quyền địa phương yêu cầu các sở, ngành liên quan khẩn trương rà soát toàn bộ quy hoạch khoáng sản, hệ thống mỏ hiện hữu và thủ tục cấp phép khai thác.

Buổi làm việc được kết nối trực tuyến đến các địa phương. Nguồn: Cổng thông tin điện tử TP Đà Nẵng
Rà soát quy mô nhu cầu và hiện trạng cấp phép khoáng sản
Theo báo cáo tổng hợp từ cơ quan quản lý chuyên ngành, áp lực cung ứng vật liệu tập trung chính vào giai đoạn ngắn hạn trước mắt:
- Quy mô nhu cầu bổ sung: Trong tổng số 15,94 triệu m³ nhu cầu tính toán, lượng vật liệu cần bổ sung trong quý IV/2026 và cả năm 2027 ước tính khoảng 8,94 triệu m³. Thành phố đã giao Sở Công Thương chủ trì phối hợp với Sở Xây dựng và các địa phương tính toán chi tiết nhu cầu theo từng nhóm công trình lớn dự kiến triển khai từ nay đến năm 2030.
- Hiện trạng giấy phép khoáng sản: Thống kê đến ngày 06/10/2026 cho thấy toàn thành phố có 18 Giấy phép khai thác khoáng sản nhóm I và nhóm II còn hiệu lực. Trong đó, 6 giấy phép do Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp (gồm 1 mỏ than đá, 1 mỏ đá ốp lát, 1 mỏ cát trắng, 1 mỏ đá vôi xi măng và 2 giấy phép nước khoáng); 12 giấy phép còn lại thuộc thẩm quyền cấp phép của thành phố (gồm 11 mỏ vàng gốc và 1 mỏ than).
Dưới góc độ quản lý dữ liệu kỹ thuật, số liệu 18 giấy phép nêu trên đại diện cho các mỏ khoáng sản nhóm I và II còn hiệu lực pháp lý, không phải là toàn bộ danh mục mỏ vật liệu xây dựng thông thường (đất đắp, cát sỏi) đang phục vụ thị trường thương mại. Đồng thời, con số 8,94 triệu m³ cần bổ sung phản ánh quy mô tính toán theo tiến độ dự án, không đồng nghĩa với mức thiếu hụt thực tế trên thị trường do chưa tách bạch tỷ trọng cụ thể của từng chủng loại đất, cát, đá và khả năng tự cân đối từ các nguồn thương mại khác.
Tiến triển pháp lý từ kết quả đấu giá 5 mỏ cát sỏi
Song song với công tác rà soát nhu cầu, thành phố đã hoàn thành phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với 5 mỏ cát, sỏi theo các quyết định ban hành ngày 24/09/2026:
- Mỏ Bãi Tý Bồi (xã Quế Phước): Công ty TNHH TMDV Tổng Hợp Hùng Châu trúng đấu giá với tỷ lệ thu tiền cấp quyền khai thác (R) đạt 329%.
- Mỏ ĐB2B (xã Điện Bàn Tây): Công ty TNHH OTPREAL trúng đấu giá với tỷ lệ thu tiền cấp quyền R đạt 357%.
- Mỏ KV5-BTM1B4 (xã Trà My): Công ty TNHH Một thành viên An Phát Tài trúng đấu giá với tỷ lệ R đạt 21,5%.
- Mỏ BTM9 (sông Trạm, xã Trà Liên): Công ty TNHH Một thành viên An Phát Tài trúng đấu giá với tỷ lệ R đạt 28,5%.
- Mỏ BTM12 (sông Trót, xã Trà Liên): Công ty TNHH Một thành viên An Phát Tài trúng đấu giá với tỷ lệ R đạt 12%.
Dưới góc độ quản trị vận hành, việc phê duyệt kết quả đấu giá 5 mỏ cát sỏi là bước xác định nghĩa vụ tài chính ban đầu theo Luật Địa chất và Khoáng sản. Chỉ số R (%) trong các quyết định phản ánh tỷ lệ thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản trúng đấu giá, tuyệt đối không đại diện cho biến động giá bán cát sỏi thương mại ra thị trường. Bên cạnh đó, việc công bố doanh nghiệp trúng đấu giá chưa đồng nghĩa với việc các mỏ này đã hoàn tất thủ tục cấp phép để khai thác và đưa sản phẩm ra công trường ngay lập tức.
Chủ động cân đối nguồn cung và kết nối hạ tầng địa phương
Động thái rà soát quy hoạch khoáng sản và chấn chỉnh tiến độ xử lý hồ sơ thủ tục hành chính tại Đà Nẵng phản ánh nỗ lực chủ động cân đối nguồn cung tại chỗ. Trước đó, chính sách chung về điều phối vật liệu xây dựng đã định danh 6 tỉnh, thành phố không tự cân đối được nguồn mỏ để chốt phương án hỗ trợ liên tỉnh. Do Đà Nẵng không nằm trong danh sách này, các giải pháp địa phương đang triển khai mang tính chất chủ động quy hoạch và tháo gỡ vướng mắc nội tại cho cộng đồng doanh nghiệp khai thác.
Việc minh bạch hóa nhu cầu 15,94 triệu m³ và đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện pháp lý cho các mỏ khoáng sản sẽ là cơ sở quan trọng giúp các nhà thầu thi công, đơn vị cung ứng chủ động tính toán kế hoạch vật tư, tối ưu hóa cước vận tải và bảo đảm tiến độ cho các công trình hạ tầng trong chu kỳ 2026–2030.
Nguồn dữ liệu: Cổng thông tin điện tử TP Đà Nẵng, Tạp chí Xây dựng
Cem.Mart



