Hoạt động sản xuất xi măng tại Sơn La trong tháng 9/2026 ước tăng 20,65% so với cùng kỳ năm 2025, tuy nhiên tính chung lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng sản lượng xi măng địa phương vẫn ghi nhận mức giảm 1,69%.
Thống kê ngành công nghiệp cho thấy sản lượng xi măng xuất xưởng tại Sơn La tháng 9/2026 đạt mức tăng 8,51% so với tháng 8 và tăng 20,65% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù nhịp chạy lò trong tháng 9 đạt tốc độ tăng trưởng hai chữ số, đà tăng trong một tháng đơn lẻ chưa bù đắp hoàn toàn phần sụt giảm tích lũy từ những tháng đầu năm, khiến tổng sản lượng 9 tháng giảm 1,69% so với cùng kỳ năm 2025.

Sản lượng xi măng Sơn La tháng 9 tăng vọt 20,65% so với cùng kỳ, nhưng vẫn chưa đủ bù đắp đà giảm từ đầu năm khiến lũy kế 9 tháng giảm 1,69%
Diễn biến sản xuất xi măng và các nhóm công nghiệp chủ lực tại Sơn La
Trong cấu trúc công nghiệp địa phương 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) của Sơn La tăng 5,92% so với cùng kỳ năm 2025\. Nhóm ngành chế biến, chế tạo ghi nhận mức tăng 10,62% lũy kế 9 tháng (riêng tháng 9 tăng 32,56% so với cùng kỳ).
Bên cạnh mặt hàng xi măng, nhóm vật liệu xây dựng khác trên địa bàn cũng ghi nhận sự phân hóa về tốc độ khai thác:
- Đá xây dựng: Lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 26,30% so với cùng kỳ năm trước nhờ nhu cầu thi công các dự án hạ tầng và công trình trọng điểm địa phương, dù riêng sản lượng tháng 9 giảm nhẹ 5,35% so với tháng 9/2025.
- Biến động theo chu kỳ sản xuất: Sự tăng tốc của sản lượng xi măng trong tháng 9 (+8,51% so với tháng 8) diễn ra song song với đà tăng của một số sản phẩm chế biến khác như sữa tươi tiệt trùng (+13,81% MoM), trong khi nhóm nông sản như chè sơ chế và thủy điện điều chỉnh giảm theo mùa vụ.
So sánh nhịp vận hành sản xuất giữa các trung tâm địa phương
Dưới góc độ quản lý dữ liệu vận hành, việc đặt chỉ số sản xuất của Sơn La bên cạnh các thị trường địa phương khác giúp làm rõ sự lệch nhịp trong kế hoạch chạy lò của từng khu vực:
- Đối chiếu với dữ liệu Ninh Bình: Trong cùng kỳ 9 tháng năm 2026, sản xuất xi măng và clinker tại Ninh Bình ước tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng trái chiều giữa Ninh Bình (+6,5%) và Sơn La (-1,69%) phản ánh quy mô và năng lực hấp thụ riêng biệt của từng thị trường địa phương.
- Bối cảnh quy mô toàn ngành: Dữ liệu theo dõi từ CIDC ghi nhận sản lượng thị trường nội địa và tổng sản xuất toàn quốc 8 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 82,07 triệu tấn (riêng tháng 8 đạt 11,82 triệu tấn, tăng 27% YoY). Do khác biệt về kỳ thống kê (8 tháng toàn quốc so với 9 tháng địa phương), các con số này đóng vai trò cung cấp quy mô tham chiếu rộng hơn cho ngành vật liệu.
- Nhịp luân chuyển hàng hóa: Tương tự các trung tâm sản xuất lớn phía Bắc như Quảng Ninh (nơi ghi nhận sản lượng xi măng 8 tháng đạt hơn 3,12 triệu tấn), đà biến động sản lượng xuất xưởng tại Sơn La đo lường khối lượng hàng hóa tạo ra tại nhà máy, hoàn toàn tách biệt về mặt khái niệm với khối lượng tiêu thụ hay đơn hàng thực tế tại công trường.
Năng lực duy trì sản xuất trong tháng 9 tạo cơ sở để các cơ sở sản xuất tại Sơn La chủ động điều tiết kế hoạch vận hành, cân đối nguồn nguyên liệu đầu vào và tối ưu hóa chi phí kho bãi cho giai đoạn thi công cao điểm cuối năm.
Nguồn tham khảo: Cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La (qua Vietnam.vn)
Cem.Mart



